Bạo hành dã man con trẻ: Lý do có phải do cha dượng, mẹ kế?
Hai vụ bạo hành trẻ em gây hậu quả nghiêm trọng tại Hà Nội và TPHCM khiến một bé tử vong, một chấn thương nặng lại một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo nghiêm trọng nhưng hồi chuông này bao giờ mới dứt?
"Nơi an toàn nhất lại là nơi nguy hiểm nhất"
Chỉ trong một ngày, hai vụ trẻ nhỏ nghi bị bạo hành bởi chính người thân trong gia đình khiến dư luận bàng hoàng. Ở Hà Nội, bé gái 4 tuổi sống cùng mẹ ruột và cha dượng tại phòng trọ ở phường Phú Diễn được đưa vào Bệnh viện E trong tình trạng ngừng tuần hoàn, hôn mê sâu, cơ thể có nhiều vết bầm tím, kết luận giám định pháp y sơ bộ cho thấy tỷ lệ tổn thương cơ thể lên tới 99% và cháu không qua khỏi chiều 6/5.
Cùng thời điểm, tại TPHCM, bé trai 2 tuổi bị mẹ ruột và cha dượng nghi nhiều lần dùng cây tre đánh, gây đa chấn thương. Cháu được đưa đi cấp cứu kịp thời và đã qua cơn nguy kịch.
Hai vụ việc xảy ra ở hai địa phương khác nhau nhưng đặt ra một câu hỏi vô cùng nhức nhối, vì sao có những đứa trẻ bị làm hại không phải bởi người xa lạ ngoài đường, mà bởi chính những người đang sống cùng, chăm sóc và có quyền kiểm soát gần như tuyệt đối cuộc đời các em?

Trẻ đang điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM. Ảnh: Báo Chính phủ.
Với một đứa trẻ 2 tuổi hay 4 tuổi, thế giới rất nhỏ. Thế giới đó có thể chỉ là ngôi nhà, căn phòng trọ, bữa ăn, chiếc giường, giọng nói của mẹ, bàn tay của người lớn sống cùng. Trẻ ở độ tuổi ấy chưa thể tự gọi điện cầu cứu, chưa biết mô tả rành mạch hành vi bạo lực, cũng chưa đủ nhận thức để hiểu rằng mình có quyền được bảo vệ khỏi người đang đánh mình.
Vì vậy, bạo hành trẻ em trong gia đình thường mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Nơi đáng ra là vùng an toàn lại trở thành nơi nguy hiểm đặc biệt với trẻ khiến không thể thoát ra. Người đáng ra phải che chở lại trở thành người gây đau đớn. Đó không chỉ là thương tích trên cơ thể, mà còn là sự sụp đổ niềm tin đầu đời.

Hình ảnh bé trai bị bạo hành dã man. Ảnh: TTXVN.
Cha dượng, mẹ kế có phải là vấn đề?
Mỗi khi xảy ra vụ bạo hành trẻ em có liên quan cha dượng, mẹ kế hoặc người tình của cha/mẹ, dư luận dễ lập tức nhìn vào danh phận: “lại là cha dượng”, “lại là mẹ kế”. Cách nhìn ấy có thể xuất phát từ sự phẫn nộ nhưng nếu chỉ dừng ở đó, vấn đề sẽ bị hiểu sai.
Thực tế, không thể quy kết mọi gia đình tái hôn, mọi cha dượng, mẹ kế hay người sống chung không cùng huyết thống đều là nguy cơ. Rất nhiều đứa trẻ lớn lên bình an trong những gia đình chắp nối, được yêu thương bởi người không sinh ra mình. Vấn đề cốt lõi không nằm ở hai chữ “dượng” hay “kế”, mà nằm ở việc người lớn có thực sự nhận trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ trẻ hay không.
Nhìn lại vụ bé gái N.T.V.A. 8 tuổi từng gây chấn động tại TPHCM năm 2021, người trực tiếp bạo hành là người sống chung như vợ chồng với cha ruột, nhưng người cha ruột cũng bị xử lý vì hành vi hành hạ người khác và che giấu tội phạm. Vụ việc cho thấy, quan hệ huyết thống không tự động bảo đảm sự an toàn cho trẻ, cũng như quan hệ không huyết thống không tự động là nguyên nhân của bạo lực. Điều đáng sợ nhất là khi người có nghĩa vụ bảo vệ trẻ lại trực tiếp tham gia, dung túng, che giấu hoặc làm ngơ trước bạo lực.
Trong các vụ việc gần đây, điểm chung khiến xã hội rùng mình không chỉ là sự xuất hiện của “người tình”, “cha dượng” hay “mẹ kế” mà là sự biến mất của trách nhiệm làm cha mẹ. Một người mẹ có thể nghèo, có thể đổ vỡ hôn nhân, có thể làm lại cuộc đời, nhưng không thể nhân danh hoàn cảnh để bỏ mặc con trong bạo lực. Một người đàn ông có thể không phải cha ruột của đứa trẻ, nhưng nếu sống cùng, chăm sóc hoặc có quyền kiểm soát trẻ, anh ta không có quyền biến đứa trẻ thành nơi trút giận.
Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra không phải là “có nên sợ cha dượng, mẹ kế không”, mà là hệ thống gia đình, họ hàng, hàng xóm, nhà trường, y tế cơ sở và chính quyền địa phương đã làm gì để phát hiện sớm một đứa trẻ đang bị hành hạ?
Cha dượng hay mẹ kế không phải mặc nhiên là vấn đề. Nghèo khó cũng không phải cái cớ. Đổ vỡ hôn nhân càng không phải lý do để một đứa trẻ bị biến thành nơi chịu đựng. Vấn đề là sự vô trách nhiệm của người lớn, là bạo lực được che chắn sau cánh cửa gia đình, là sự im lặng của những người có thể đã nhìn thấy nhưng không dám lên tiếng.
Pháp luật không xử lý danh phận, pháp luật xử lý hành vi

Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban chấp hành Hội bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam. Ảnh: LSCC.
Từ góc độ pháp lý, người gây bạo hành trẻ em có thể bị xử lý theo nhiều tội danh khác nhau, tùy hành vi, hậu quả, mức độ thương tích, ý thức chủ quan và vai trò của từng người.
Theo Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban chấp hành Hội bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam, trong vụ việc bé gái 4 tuổi ở Hà Nội bị mẹ ruột và người tình bạo hành tử vong, hành vi của 2 đối tượng này là vô cùng tàn nhẫn, vi phạm pháp luật nghiêm trọng và sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc của pháp luật.
Kết quả xác minh ban đầu từ cơ quan chức năng cho thấy các đối tượng này đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn có nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hành vi đánh đập vào người nạn nhân mới chỉ 4 tuổi có thể gây ra thương tích, thậm chí gây ra thiệt hại đến tính mạng của nạn nhân nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi, bỏ mặc hậu quả cháu bé bị thương tích xảy ra nên hành vi của các đối tượng này có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích hoặc tội giết người.
“Trường hợp có căn cứ cho thấy các đối tượng này sử dụng hung khí nguy hiểm, đánh vào vùng trọng yếu của nạn nhân, bỏ mặc hậu quả chết người xảy ra thì căn cứ vào án lệ số 47 của hội đồng thẩm phán và điều 123 BLHS để khởi tố, xử lý các đối tượng này về tội giết người.
Trường hợp không đủ cơ sở để xử lý về tội giết người thì vẫn xử lý các đối tượng này về tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người theo quy định tại khoản 4, điều 134 BLHS với hình phạt từ 7 năm đến 14 năm tù”, Luật sư Đặng Văn Cường cho hay.
Nhìn từ nhiều vụ việc, xử lý bạo hành trẻ em không chỉ là tăng nặng hình phạt với kẻ gây án mà là thiết kế một vòng bảo vệ nhiều lớp gồm nhận diện nguy cơ sớm, bắt buộc báo cáo với một số nhóm nghề nghiệp, can thiệp khẩn cấp để tách trẻ khỏi môi trường nguy hiểm, điều trị y tế, hỗ trợ tâm lý, bố trí chăm sóc thay thế và theo dõi lâu dài. Nếu chỉ đợi đến khi trẻ nhập viện với đa chấn thương, hệ thống bảo vệ đã đến quá muộn.
Sau mỗi vụ bạo hành trẻ em, xã hội thường phẫn nộ với người ra tay. Sự phẫn nộ ấy cần thiết, nhưng chưa đủ. Vấn đề là trước khi đứa trẻ nhập viện, đã có bao nhiêu dấu hiệu bị bỏ qua? Trước khi một cơ thể nhỏ bé đầy thương tích, đã có bao nhiêu lần tiếng khóc bị xem là “chuyện gia đình”?
Với một đứa trẻ, gia đình không nên là nơi đáng sợ nhất. Người lớn có thể thất bại trong hôn nhân, trong mưu sinh, trong lựa chọn bạn đời. Nhưng không được thất bại trong điều tối thiểu đó là "giữ cho con mình được sống an toàn".
PGS.TS Bùi Hoài Sơn từng chia sẻ về vấn đề nhức nhối liên quan đến bạo hành trẻ em. Theo ông, thực tế, phần lớn các vụ bạo hành trẻ em chỉ được phát hiện khi đã quá muộn. Trẻ em là nhóm yếu thế, không đủ khả năng tự bảo vệ hay lên tiếng. Khi người gây hại lại chính là người thân, các em thường chọn im lặng, hoặc không biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ. Trong khi đó, bạo hành lại thường xảy ra trong không gian riêng tư, ít người chứng kiến, khiến việc phát hiện sớm trở nên khó khăn.
Điều đáng suy ngẫm là vai trò của dư luận đang trở thành “hệ thống cảnh báo muộn”. Xã hội cần một cơ chế phòng ngừa chủ động hơn, nơi mọi người lớn đều có trách nhiệm quan sát và bảo vệ, nơi tiếng nói của trẻ được lắng nghe sớm hơn. Một xã hội nhân văn không thể để an toàn của trẻ nhỏ phụ thuộc vào độ lan truyền của một tấm ảnh hay sự phẫn nộ nhất thời trên mạng.
Nguồn: Bạo hành dã man con trẻ: Lý do có phải do cha dượng, mẹ kế?